Đông y sử dụng nhân sâm như thế nào?

Cách chọn mua nhân sâm hàn quốc
Cách chọn mua nhân sâm hàn quốc

Đông y sử dụng nhân sâm thế nào?

Nhân sâm là một vị thuốc quý được sử dụng cho những người suy kiệt, khí hư giúp bổ tỳ hưng phế. Trong quá trình chữa bệnh, các lương y đã khéo léo kết hợp các vị thuốc với nhau để tạo ra nhiều bài thuốc hay.

Trị chứng Vong âm vong dương (khí thoát, chân tay lạnh, tự ra mồ hôi, mạch trầm vi tế hoặc trường hợp chảy máu nhiều, gây choáng):

  • Độc sâm thang: Sâm 4 – 12g, chưng cách thủy cho uống, nên uống nhiều lần.

  • Sâm phụ thang: Sâm 3 – 6g, Phụ tử chế 4 – 16g, sắc uống 6 lần. Đối với trường hợp dương hư chân tay lạnh (choáng trụy tim mạch) cần thực hiện Đông tây y kết hợp cấp cứu.

  • Cấp cứu trẻ sơ sinh trạng thái nguy kịch: Hồng sâm thái mỏng 3 – 5g ( tương đương 1g/1kg cân nặng/ 1ngày) cho nước 40 – 50ml chưng 30 phút cho uống cứ 3 giờ 1 lần ( nhỏ giọt vào mồm hoặc cho bằng ống sonde qua mũi), mỗi lần 5ml, 1 liệu trình 4 – 6 ngày dài là 10 ngày có phối hợp Tây y cấp cứu ( Tạp chí nghiên cứu Trung thành dược 1987,7:34).

Nhân sâm
Nhân sâm

Trị chứng rối loạn tiêu hóa kéo dài do tỳ vị hư nhược, dùng phối hợp với bạch truật, bạch linh.

Tứ quân tử thang: Nhân sâm 4g, Bạch truật 12g, Bạch linh 12g, Cam thảo 4g, sắc uống.

Trị các loại bệnh phổi như hen phế quản, viêm phế quản mạn tính, tâm phế mạn, dùng bài:

Nhân sâm định suyễn thang: Sâm 8g ( gói sắc riêng), Thục địa 20g, Thục phụ phiến 12g, Hồ đào nhục 16g, Tắc kè 8g, Ngũ vị tử 8g, sắc uống.

Nhân sâm Hồ đào thang: Sâm 4g, Hồ đào nhục 12g, saü uống trị chứng hư suyễn.

Trị bệnh cảm ở người vốn khí hư:

Sâm tô ẩm ( cục phương): sâm 4g (sắc riêng), Tô diệp 12g, Phục linh 12g, Cát căn 12g, Tiền hồ 4g, Bán hạ ( gừng chế) 4g, Trần bì 4g, Chỉ xác 4g, Cát cánh 4g, Mộc hương 3g ( cho sau), Cam thảo 3g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 2 quả, sắc uống nóng cho ra mồ hôi.

Nhân sâm
Nhân sâm

Trị tiểu đường:

Tiêu khát ẩm: Cát lâm sâm 8g ( sắc riêng), Thục địa 24g, Kỷ tử 16g, Thiên môn đông 12g, Sơn thù nhục 12g, Nhân sâm 16g, sắc uống.

Dùng độc vị sâm uống, theo báo cáo dùng cao lỏng sâm mỗi lần uống 0,5ml ngày 2 lần, liệu trình tùy tình hình bệnh, nếu bệnh nhẹ kết quả rõ, có thể làm hạ đường huyết 40 – 50mg% ngưng thuốc có thể kéo dài thời gian ổn định trên 2 tuần, đối với thể trung bình tác dụng hạ đường huyết không rõ nhưng triệu chứng chung được cải thiện như khát nước giảm, đỡ mệt mỏi ( Vương Bản Tường, kết quả nghiên cứu Dược lý nhân sâm – Dược học học báo 1965,7:477, Ứng dụng lâm sàng vị nhân sâm y học cát lâm 1983,5:5)

Trị liệt dương:

Dùng uống nước chiết xuất 500mg mỗi ngày dùng để trị các trường hợp: Liệt dương , tảo tiết, phóng tinh yếu, tình dục giảm đều có kết quả nhất định. Cần kiên trì để mang lại hiệu quả cao. ( Vương Bản Tường, ứng dụng lâm sàng vị nhân sâm, cát lâm y học 1983,5:54).

Trị cao huyết áp và xơ mỡ động mạch:

Các tác giả Liên xô dùng cồn 20% Nhân sâm, mỗi lần 20 giọt, ngày 2 lần, đối với các chứng huyết áp cao, xơ mỡ động mạch, đau thắt tim, thần kinh tim và hở van tim, đều có kết quả nhất định như cảm giác dễ chịu, bớt khó thở, bớt đau thắt tim, bớt đau đầu, ngủ tốt, điện áp sóng T và R được nâng cao. ngưng thuốc 6 – 9 tháng, bệnh tình vẫn ổn định (Vương Bản Tường, ứng dụng lâm sàng vị nhân sâm cát lâm y học 1983,5:54).

Sử dụng nhân sâm có tác dụng làm giảm mỡ trong máu ở người già nhất là đối với Triglicerid 80% người được thí nghiệm cảm thấy thể lực và trí lực đều tăng, 54% mất ngủ được cải thiện, 40% chứng tinh thần trầm cảm giảm, rối loạn sắc tố da ở người già được cải thiện, bớt rụng tóc.

Nhân sâm
Nhân sâm

Dùng trị chứng suy thượng thận ( Addison):

Nhân sâm có tác dụng kháng lợi niệu nên ảnh hưởng tới chuyển hóa của nước muối như Hocmon vỏ thượng thận gluco-cocticoit. Theo báo cáo của Vương Bản Tường theo dõi 18 ca, bệnh nhân Addison cho uống cồn chiết xuất thân lá Nhân sâm 20% ( tương đương 0,5g thuốc sống/1ml ); liều 20 – 30ml ngày uống 3 lần và tăng dần liều đến 150 – 300ml mỗi ngày. Liệu trình bình quân 121 ngày. Sau điều trị, bệnh nhân lên cân, huyết áp được nâng lên, lực nắm bàn tay mạnh hơn, đường huyết lên, natri huyết thanh tăng. Thử nghiệm nước cocticoit và ACTH đều được cải thiện, giảm lắng đọng sắc tố ở da, đối với bệnh nhân sớm và ở giai đoạn bù trừ có kết quả tốt, có thể hồi phục khả năng bù trừ, cần dùng kết hợp với cocticoit có giảm liều ( Báo y học cát lâm 1983,5:54)

Dùng trị tỳ hư trẻ em:

Theo báo cáo của Từ Hỷ Mai dùng hồng sâm chữa cho 10 trẻ em nằm viện có các triệu chứng đần độn, ra mồ hôi, sắc mặt tái nhợt, vàng bủng. Đã được điều trị theo phác đồ chung gia hồng sâm theo liều:

Trẻ em dưới 3 tuổi: hồng sâm 3g sắc được 30ml.

Trẻ em trên 3 tuổi: sắc lấy 60ml gia thêm đường mía, chia 2 lần uống trong ngày, một liệu trình 7 – 14 ngày.

Thuốc có tác dụng làm trẻ em ăn ngon, hết mồ hôi, lên cân, sắc mặt tươi hơn ( theo báo y dược trùng khánh 1984,6:41).

Nhân sâm là một vị thuốc quý. Tuy nhiên chúng ta chỉ nên sử dụng theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc bởi ngoài những tác dụng to lớn, việc sử dụng sâm sẽ gây ra những tác dụng phụ không mong muốn.

Be the first to comment

Gửi phản hồi